Loài nhông có kích thước trung bình, dài thân 110mm, dài đuôi 265mm, đầu dài hơn rộng. Tấm mõm rộng hơn cao, được viền bởi 4 vảy phía sauvà hai tấm mép trên thứ nhất. Vùng trán, đỉnh hơi lõm. Gờ má, gờ trên mắt sắc. Lỗ mũi tròn, chạm tấm mép trên thứ nhất. Vảy ở trán lớn hơn vảy ở đỉnh . Có gai sau ổ mắt, gai cao không quá 3mm và 2 gai ở phía trên màng nhĩ. Tấm cằm khá lớn. Có 10 tấm mép trên, và 9 -10 tấm mép dưới ở mỗi bên. Phần dưới ngón số IV chi trước có 22 bản mỏng, nhỏ và 27 bản mỏng dưới ngón IV chi sau. Vảy quanh thân gồm 46 hàng. Vảy thân có mấu hướng ra sau và lên trên. Vảy ngực, bụng, chân tay có gờ rất rõ. Vảy dưới đuôi lớn. Có rãnh hay nếp gấp trước vai màu đen. Thân màu nâu xám hay xám nhạt. Có các vệt xẫm màu vắt ngang thân và đuôi. Họng màu hồng nhạt với các chấm đen rải rác. Bụng màu trắng đục. Trong mùa sinh sản, màu của con đực trở nên đậm hơn, khoe ra vùng da lùng nhùng ở cổ họng màu đỏ nhạt và những vệt có góc cạnh bên hông. Chúng phân bố trong các khu rừng mưa nhiệt đới, chủ yếu là rừng thường xanh, nơi đây nó sống trên nền đất rừng giữa các tầng cây thấp dày đặc. Con cái đẻ 4 -12 trứng, trứng được trôn dưới đất mềm hay dưới thảm mục thực vật. Trứng tự nở và phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường.